CHỈ DẪN ĐỊA LÝ “NGỌC LINH” CHO SẢN PHẨM SÂM NGỌC LINH CỦ CỦA 02 TỈNH KON TUM VÀ QUẢNG NAM
0866.731.431 - 0938.30.37.34

CHỈ DẪN ĐỊA LÝ “NGỌC LINH” CHO SẢN PHẨM SÂM NGỌC LINH CỦ CỦA 02 TỈNH KON TUM VÀ QUẢNG NAM

24/05/2017

NHỮNG MỐC THỜI GIAN CHÍNH XÂY DỰNG CHỈ DẪN ĐỊA LÝ “NGỌC LINH” CHO SẢN PHẨM SÂM NGỌC LINH CỦ CỦA 02 TỈNH KON TUM VÀ QUẢNG NAM

- Ngày 15/12/2008, Cục Sở hữu trí tuệ ký kết hợp đồng số 10/HĐ-CT68/2008-2009 với Sở KH-CN Kon Tum triển khai thực hiện Dự án xây dựng chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” cho sản phẩm sâm củ của hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam.

- Ngày 25/07/2011, Sở KH&CN Kon Tum nộp đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” cho sản phầm sâm củ của 02 tỉnh Kon Tum và Quảng Nam.

- Ngày 12/12/2012, Cục sở hữu trí tuệ có Quyết định số 3094/QĐ-SHTT về việc chấp nhận đơn hợp lệ cho Đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý Ngọc Linh của tỉnh Kon Tum.

- Ngày 17/10/2014, Cục Sở hữ trí tuệ có Công văn số 8494/SHTT-CDNH về việc đề nghị sửa đổi Đơn đăng ký số 6-2011-00003 ngày 25/07/2011 (đơn do Sở KH&CN tỉnh Kon Tum làm chủ đơn).

- Ngày 23/07/2015, giữa Bộ KH&CN, UBND tỉnh Kon Tum và UBND tỉnh Quảng Nam có Thông báo số 2650/TB-BKHCN-UBND việc đăng ký chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” cho sản phẩm sâm củ của hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam.

- Ngày 21/8/2015, Cục Sở hữu trí tuệ có Công văn số 7871/SHTT-CDNH về việc hướng dẫn sửa đổi đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý Ngọc Linh cho sản phẩm sâm củ của 02 tỉnh Kon Tum và Quảng Nam.

- Ngày 17/11/2015, Sở KH&CN Kon Tum Hợp đồng số 15/HĐ-SKHCN-TKCM với Viện Thổ nhưỡng Nông hóa về việc Hợp nhất cơ sở khoa học phục vụ đăng ký chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” dùng cho sản phẩm sâm củ của 02 tỉnh Kon Tum và Quảng Nam.

- Ngày 24/5/2016, Sở KH&CN Kon Tum nộp đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” cho sản phẩm sâm củ của 02 tỉnh Kon Tum và Quảng Nam.

- Ngày 9/6/2016, Cục Sở hữu trí tuệ có Thông báo số 4478/TB-SHTT về việc ghi nhận sửa đổi đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” cho sản phẩm sâm củ của 02 tỉnh Kon Tum và Quảng Nam.

- Ngày 16/8/2016, Cục Sở hữu trí tuệ có Quyết định số 3235/QĐ-SHTT về việc cấp Giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” cho sản phẩm sâm củ của 02 tỉnh Kon Tum và Quảng Nam.

 

 

MỘT LOÀI NHÂN SÂM TỐT NHẤT THẾ GIỚI ĐÃ ĐƯỢC PHÁT HIỆN NHƯ THẾ NÀO

- DS. Đào Kim Long

 

 

- Cây Nhân Sâm Ngọc Linh đã được tìm thấy vào 09h ngày 18/3/1973.

- Từ một cây cỏ hoang dại sống từ khai thiên lập địa, âm thầm trên núi Ngọc Linh đã trở thành danh thảo nổi tiếng khắp trong và ngoài nước.

- Mọi người Việt Nam bây giờ ai cũng biết đất nước ta trên núi Ngọc Linh có một loài Nhân sâm quí hiếm không kém bất kỳ một loài sâm quí nào trên thế giưới như Sâm Trường Bạch của Triều Tiên, Sâm Tây Dương của Mỹ.

- Hơn 50 luận án Tiến sĩ đã chứng minh chân lý đó.

- Hôm nay, tôi rất vinh dự kể lại đầu đuôi việc tìm Nhân sâm Ngọc Linh như thế nào.

- Tôi là giảng viên dạy thực vật và dược liệu tại Trường Đại học Dược khoa Hà Nội, khi đó tôi 30 tuổi.

- Một hôm ông Đào Thiệt, cán bộ của Vụ I – Bộ Y tế do Bác sỹ Võ Tố làm Vụ trưởng, đến tìm tôi và hỏi có đi “B” (tức vào miền Nam) được không?

 

Qua trao đổi trực tiếp với ông Đào Thiệt, tôi biết Tổ điều tra Dược liệu của khu 5 (Miền Trung Trung Bộ) đã bị tiêu diệt. Hiện không còn ai tiếp tục việc này, để phục vụ cho chiến tranh giải phóng Miền Nam. Tôi đã nhận lời và sau đó vài tuần, chia tay với trường Đại học Dược, với Hà Nội văn hiến và hào hoa. Tôi đến Trường 105 Hòa Bình tập leo núi, hành quân mang nặng, tập bắn sung và tìm kiếm mọi mặt ở chiến trường.

 

Sau ba tháng học tập, từ Trường 105 Hòa Bình tôi đã lên đường đi vài chiến trường Khu 5 để nghiên cứu cây thuốc phục vụ cho cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Đó là thời cơ không thể có lần thứ hai trong đời tôi.

 

Cuộc đi bộ bắt đầu từ Booa Trạch (Quảng Bình) theo đường mòn Hồ Chí Minh phía Tây Trường Sơn trên lưu vực của các con song Sê Lon, Sê Băng Hiêng, Sê Ca Mản và vượt Sê Ca Mản sang lãnh thổ Việt Nam. Về căn cứ Nước Oa và đến nhận công tác tại Ban Dân y Khu 5 (Ban Y tế Miền Trung trung bộ, lúc đó ông Phạm Hồng làm Phó ban).

 

Trong ba tháng đi bộ theo luồng di cư của cây cỏ từ Hòa Nam theo tây Trường Sơn đi xuống. Tôi đã thống kê được khoảng 400 loài thuốc, có nhiều cây quí và rất quí. Điều quan trọng nhất là tôi đã khái quát được động vật và thực vật nói chung ở Tây Trường Sơn.

 

Sau khi nhận công tác tại Ban Y tế Khu 5, nghỉ ngơi ít ngày, tôi đề nghị Ban cho đi tìm hiểu cây cỏ Đông Trường Sơn và ven biển Miền Trung.

 

Cuộc đi đầu tiên xuống dốc Bình Minh (Thuộc huyện Trà Bồng – Quảng Ngãi), tôi bị sốt rét ác tính, nằm ở rừng mất một tháng thì được 5 đồng hương Hà Nội cáng vào Bệnh viện X50 Quảng Ngãi do Bác sỹ Dũng làm Viện trưởng, khoảng 2 tháng tôi mới khỏe trở lại.

 

Cuộc đi thứ hai, có một Dược sỹ cùng đi đó là Kiều Viết Thiết, quê ở Thăng Bình – Quảng Nam, là Dược sỹ mới tốt nghiệp Đại học Dược khoa Hà Nội. Ở Quảng Nam lúc đó vùng địch và vùng giải phóng của ta cài lẫn nhau, cho nên cuộc đi thật gian truân, liên tục bị địch săn đuổi, hết bị pháo bầy lại bị phục kích. Chính thời gian này tôi gặp nhà văn Hoàng Sơn, Hội văn nghệ của Quảng Nam cứu thoát chết đói.

 

Sau cuộc điều tra dược liệu Đông Trường Son, tôi có viết một bái tổng kết tình hình dược liệu Miền Trung trung bộ. Trong bài viết có phân tích kỹ về địa lý, về thổ nhưỡng, khí hậu, về động vật, thực vật, về luồng di cư và hội tụ của hệ sinh thái với phát hiện khoảng 800 loài cây thuốc ở cả hai sườn Đông và Tây Trường Sơn. Phần kết luận đã phỏng đoán có thể tìm được các cây thuốc thuộc Họ Nhân sâm trên núi Ngọc Linh là ngọn núi cao nhất trên dãy Trường Sơn.

 

Bài viết này được đọc tại Đại học Dược toàn Khu 5 có thành phần đại biểu của 9 tỉnh Miền Trung trung bộ dưới sự lãnh đạo của khu ủy Khu 5 (lúc đó ông Võ Chí Công làm bí thư) đã thành lập Đoàn điều tra Nhân sâm và Dược liệu nói chung trên vùng núi Ngọc Linh.

 

Thành phần có 4 người:

 

DS. Đào Kim Long – Trưởng đoàn

KS. Nguyễn Bá Hoạt

DS. Nguyễn Châu Giang

DS. Trung học Trần Thanh Dân

 

Sáng 15 tháng 10 (âm lịch) năm Nhâm Tý (1972) hết mùa mưa, chúng tôi bắt đầu đi bộ, vượt từ Đông về Tây Trường Sơn. Ngày 27 tháng 12 (âm lịch) chúng tôi đến Ban Y tế tỉnh Kon Tum, chúng tôi được DS. Sĩ (ông Sĩ già) là ủy viên Ban của tỉnh phụ trách dược, tiếp và tổ chức cho chúng tôi ăn tết.

 

Sau tết chúng tôi được lệnh từ khu hoãn cuộc đi lên Ngọc Linh và quay xuống Đắk Tô để chống địch cho dân mới được giải phóng sau trận đánh nổi tiếng ở Đắk Tô – Tân Cảnh. Qua hơn một tháng đi chống địch, chúng tôi tiếp tục lên Ngọc Linh.

 

Đoàn chúng tôi tổ chức thành hai nhóm, nhóm I tôi phụ trách cùng với Nguyễn Châu Giang và cô Lê là Dược sỹ trung học được đào tạo cơ sở phía Nam (là người của Ban Y tế Kon Tum). Nhóm II do KS. Nguyễn Bá Hoạt phụ trách cùng với DS. Trung học Trần Thanh Dân (sau này Trần Thanh Dân bị ốm không đi được và Nguyễn Bá Hoạt đi một mình).

 

Nhóm của tôi đi đến H80 (tức mã số chỉ huyện) được ông Loan – Phó chủ tịch H80 tiếp và tổ chức một buổi gặp gỡ để tôi nói chuyện với tất cả các già làng, trưởng bản trong H80 về thuốc Nam và cách chữa bệnh, phòng bệnh bằng thuốc Nam ở làng Đắk Rơ Man (Dịp này tôi đã làm lễ kết nghĩa an hem với già làng Đắk Rơ Man). Sau này tôi mới hiểu ý nghĩa chính của cuộc gặp mặt này là ngầm giới thiệu tôi với nhân dân các dân tộc trên núi Ngọc Linh, để họ biết và bảo vệ chúng tôi.

 

Ngày 18 tháng 3 năm 1973, ở độ cao khoảng 1.800m, tôi đang đi bỗng thấy Nguyễn Châu Giang chạy vượt lên hỏi tôi: Thầy ơi, cây gì đây? Tôi bàng hoàng như không tin đây là sự thật, hỏi lại: Em cấu ngọn cây này ở đâu? Giang dẫn tôi độ mươi bước chân và thế là chúng tôi đã gặp được cây Nhân sâm đầu tiên trên núi Ngọc Linh. Nhìn đồng hồ lúc đó là 9 giờ sang. Tôi nói nhỏ chỉ để cho Châu Giang nghe: Đây là cây chúng mình đang đi tìm đấy!

 

Chúng tôi muốn đem bí mật này đến khu.

 

Ở lại đây chừng 3 giờ để tìm xem có bao nhiêu cây và thống kê các cây cỏ cùng mọc trong hệ sinh thái ở đó, chúng tôi thu thập mẫu, chụp ảnh, ép tiêu bản và ghi chép các số liệu khoa học vào nhật ký điều tra.

 

Sau bữa ăn trưa tôi quyết định lên cao tiếp, 17h cùng ngày hôm đó, khi đỗ ba lô xuống bên một dòng suối, ba lô đã đè lên thảm Nhân sâm dày đặc, gần như thuần chủng, mọc xanh tốt, nở hoa thơm ngan ngát, ong đến lấy mật vi vu. Đúng giờ ấy chúng tôi đã đến trung tâm của vùng Sâm Ngọc Linh. Dựng nhà tăng ngay bên suối, sợ dẫm gẫy những cây sâm, chúng tôi đã khai thác một lối đi xuống suối để lấy nước.

 

Đến địa điểm lý tưởng này, chúng tôi đã hết gạo, nhưng tôi vẫn quyết định ở lại tiếp tục nghiên cứu, suốt 15 ngày sau đó chúng tôi sống bằng rau rừng, nước Nhân sâm, khoai lang rừng, mật ong và nhộng ong.

 

Chúng tôi không bỏ qua một chi tiết nào về đất đai, khí hậu, vùng khí hậu, các đặc điểm sinh thái, khả năng trồng và tái sinh, đặc điểm di cư phát tán…

 

Lúc đó tôi có mấy kết luận sau:

 

- Cây Nhân sâm Ngọc Linh thích nghi nhất với lớp mùn đọng ở các khe đá trên núi.

- Phân tán di cư chủ yếu nhờ dòng nước cuốn trôi đi theo dọc các con suối.

- Nhiệt độ sống ổn định không quá 22oC không quá lạnh nhờ điều hòa nhiệt độ của các con suối từ trên núi xuống.

- Ánh sáng khuếch tán dưới một khu rừng có cây cao lá kim và cây rụng là mùa đông.

- Cây có thể mọc lên tái sinh nhờ thân rễ.

 

Những kết luận trên nhằm mục đích sau này vừa khai thác vừa nuôi trồng và phát triển.

 

Khi nghiên cứu về cách thích nghi và các phân tán di cư của Nhân sâm Ngọc Linh đi theo các dòng suối từ trên đỉnh núi xuống. Chúng tôi thấy rằng Nhân sâm Ngọc Linh không có bằng chứng đã di cư từ Hoa Nam xuống hoặc từ Ấn Độ, Malaixia sang. Đây chắc là một loài Sâm (Panax) đặc hữu của núi Ngọc Linh. Chính thời điểm này, tôi và Nguyễn Châu Giang đã tha thẩn dọc suối để nghiên cứu sự phát tán và di cư của Nhân sâm Ngọc Linh thì bị dân bản gần đấy nghi là biệt kích và bị dẫn về bản. Rất may già làng nhận đã gặp tôi ở Đắk Rơ Man, nên được tha và cho thêm một gùi khoai lang, thế là chúng tôi có thêm lươn thực để tiếp tục nghiên cứu.

 

Khi đã thu đủ số liệu khoa học và thu phơi khoảng 15kg Sâm, trong đó có củ 72 năm tuổi, chúng tôi quyết định trở về, lòng đầy lưu luyến với khu vực rừng núi thần tiên này.

 

Về tới Ban dân y Kon Tum, cô Lê đã tiết lộ việc phát hiện Nhân sâm nên bắt buộc chúng tôi phải bàn giao kết quả điều tra cho Ban y tế tỉnh Kon Tum và điện về khu để báo cáo.

 

Nhận được tin này Ban Y tế Khu 5 và khu ủy rất mừng và lệnh cho chúng tôi về ngay.

 

Khi về cũng thật gian truân, muối hiếm, gạo ít, lại phải mang nặng thêm, nào sách, nào máy ảnh, sung đạn, bản đồ, địa bàn, tiêu bản, mẫu các cây thuốc và khoảng 15kg củ Nhân sâm phơi khô cộng với ăng gô, dao găm, tăng, võng…

 

Hơn sáu tháng trèo núi, lội suối, ai cũng đã thấm mệt, về đến ngọn Sông Tranh thì gạo hết, muối còn độ nửa lon, sung còn mươi viên đạn, ba an hem (Long + Hoạt + Giang) đều khật khừ sốt rét, phải vừa đi vừa mò cá, bắt ốc suối để ăn (Trần Thanh Dân phải nằm lại Kon Tum).

 

Một lần mò cá ở ngọn sông Tranh, tôi bị nước cuốn trôi, dòng nước lạnh buốt chạy như ngựa, đã kéo tôi cuồng loạn giữa những hòn đá gềnh to như đống rơm, đống rạ, trơn tuột bầy ngổn ngang, trên mặt sông như trận đồ bát quái. Tôi giơ tay về phía trước để đầu khỏi đập vào đá, còn mặc cho nước kéo đi, lao qua hết ghềnh này thác khác. Hoạt và Giang chạy theo trên bờ.

 

Được vài ba kilomet dòng nước ném tôi xuống một thác cao, dưới chân thác là một vực sâu và rộng, dòng nước xoáy tròn, lừ đừ như nghỉ lấy sức trước khi tiếp tục cuộc hành trình về biển.

 

Tôi ngoi lên được một tảng đá cạnh bờ, ngồi trên đó với hai đầu gối xưng vù, quần áo rách nát. Hoạt và Giang hốt hoảng chạy theo đến nơi, mắt ngơ ngác tìm kiếm. Khi nhìn thấy tôi đang ngồi ngóng đợi cùng cười và nói: “Chúng em tưởng anh chết”. Hai người xuống dìu tôi lên bờ, khi đó Hoạt động viên tôi nói: “Hôm nay anh mà chết ở đây, mai kia thống nhất đất nước, chúng em sẽ xây một đài tưởng niệm để ghi công anh là người đầu tiên tìm ra Nhân sâm trên núi Ngọc Linh”.

 

Tôi gượng cười và trả lời: “Đau bỏ mẹ, tưởng với nhớ gì, mà chắc gì các chú còn sống đến lúc đó”.

 

Hơn hai năm sau, khi chúng tôi ở ngọ Sông Tranh, Miền Nam thật sự được giải phóng và đến bây giờ đã 30 năm, chúng tôi sống cả, rất may là chưa phải xây dựng một đài tưởng niệm nào? Mỗi chúng tôi vẫn còn sức để bơi hoặc còn sức để không bị bị cuốn trôi vào các dòng song đầy cám dỗ khác của cuộc đời những người cán bộ khoa học.

 

Ngày 27 tháng 5 năm 1973 về tới khu căn cứ Trà My (Quảng Nam), anh Phạm Hồng, anh Trần Lai và các anh chị ở Ban dân y Khu 5 mừng đón chúng tôi và đề nghị sang ngay khu ủy để báo cáo cho khu ủy mừng. Nhưng anh em chúng tôi mệt quá không thể đi được và khất đến hôm sau.

 

Sáng sớm hôm sau tức ngày 28 tháng 5 năm 1973, ông Võ Chí Công – Bí thư Khu ủy và ông Chín Liêm – Phó Bí thư Khu ủy đã trực tiếp đến Ban dân y khu (mà không chờ chúng tôi sang khu ủy) để trực tiếp cùng Ban lãnh đạo dân y khu nghe tôi báo cáo và trực tiếp xem xét kết quả nghiên cứu của chúng tôi.

 

Một ba lô củ Nhân sâm, các tiêu bản, ảnh chụp, tài liệu tổng kết nghiên cứu…Tất cả Ban Y tế Khu 5 đã thu và gửi ra Hà Nội.

 

Mọi việc trong chiến tranh đều làm theo mệnh lệnh, các tài liệu ấy đến tay Dược sỹ Nguyễn Thới Nhâm từ lúc nào ngoài Bắc chúng tôi không được biết. Chính các tài liệu ấy đã là điểm xuất phát để Dược sỹ Nhâm đạt tới học vị Tiến sĩ và Giám đốc đầu tiên của Viện Nhân sâm Việt Nam.

 

Đầu năm 1974, tại khu căn cứ Trà My, lúc đó tôi là “Giám đốc” K65 (tức cơ quan nghiên cứu Dược liệu và kiểm nghiệm thuộc Ban Y tế Trung trung bộ). Có một lần nhận được thư và ảnh chụp của bản sắc ký về hoạt chất của Nhân sâm Ngọc Linh, đối chiếu với Nhân sâm Triều Tiên được thực hiện ở Viện Dược liệu Hà Nội (đến bây giờ 2003, tôi vẫn chưa một lần được gặp tiến sỹ Nguyễn Thới Nhâm).

 

Sau khi tìm ra Sâm Ngọc Linh, việc khó khăn nhất là xác định tên khoa học của nó. Việc ấy ngay ở Hà Nội bấy giờ còn khó khăn, kể chi ở chiến trường lúc đó. Nhưng với kinh nghiệm của nhiều cuộc điều tra dược liệu tại Miền Bắc, nhất là cuộc điều tra Nhân sâm ở Hoàng Liên Sơn (Simakai, Mường Khương, Bát Sát, Sa Pa, Bắc Hà), cộng với việc phân tích đặc điểm phân tán và di cư của Nhân sâm Ngọc Linh, tôi thấy cây sâm Ngọc Linh không thể đi từ nơi khác đến mà là một cây bản địa và đặc hữu của Ngọc Linh, nên căn cứ vào hình dáng thân rễ có đốt, tôi đã đặt tên cho nó là Panax articulates Kim Long Đào (không ngờ tên cây như thế lại trùng tên với một loài Nhân sâm của Trung Quốc), việc này mãi sau tôi mới biết.

 

Các tài liệu gửi ra Bắc lúc đó về Bộ môn Thực vật Đại học Dược khoa Hà Nội về Giáo sư Đỗ Tất Lợi. Cây Nhân sâm Ngọc Linh đều được mang tên như vậy (Bản viết tay gửi Giáo sư Đỗ Tất Lợi còn giữ được đến bây giờ).

 

Sau này Hà Thị Dung cùng nhà khoa học Liên Xô A.G. Ruski căn cứ vào tài liệu đầy đủ đã xác định là một loài Nhân sâm mới của thế giới lần đầu tiên gặp ở Việt Nam. Và đã đặt tên là Panax vietnamensis Ha. Et. A. G. Ruski (Việc này được công bố vào giwuax thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Sau khi cây sâm được phát hiện hơn 10 năm).

 

Cây Nhân sâm Ngọc Linh hay Nhân sâm Việt Nam lần đầu nó mang tên là Panax articulates Kim Long Đào và sau này mang tên Panax vietnamesis Ha. Et. A. G. Ruski là hai tên đồng danh đã phát hiện vào 9h sáng ngày 18 tháng 3 năm 1973. Đó là sản vật quý của Ngọc Linh.

 

Công đầu ấy, niềm vinh quang ấy thuộc về Đảng bộ và Ban Y tế Khu 5, thuộc về nhân dân xung quanh núi Ngọc Linh. Trong đó có sự đóng góp của những chiến sĩ giải phóng miền Nam chúng tôi.

 

Từ thời điểm tìm ra nó đến nay, các nhà khoa học kế tiếp nhau trong các luận án Tiến sĩ của mình đã chứng minh hung hồn rằng Nhân sâm Ngọc Linh là cây bản địa Việt Nam, đặc hữu ở rừng núi Ngọc Linh, là một loại sâm tốt nhất thế giới, không thua kém gì sâm Trường Bạch (Triều tiên), không thua kém sâm Tây Dương của Mỹ. Tên tuổi của nó đã vượt ra ngoài lãnh thổ Việt Nam.

 

TÍNH ĐẶC HỮU CỦA SÂM NGỌC LINH

 

Chi Nhân sâm (Panax L.) thuộc họ Ngũ gia bì (Araliaceae) trên thế giới có khoảng 10 loài (tùy theo quan điểm của mỗi tác giả). Trong đó phần lớn các loài phân bố ở châu Á, từ Đông – Bắc Á đến cận Himalaya và chỉ có 3 loài ở vùng Bắc Mỹ. Một số loài của chi này đã trở thành những cây thuốc nổi tiếng, không chỉ trong phạm vi của nền y học cổ truyền Phương Đông mà trên toàn thế giới (Panax ginseng C.A. Meyer; P. pseudoginseng Wall.; P. quinquefolius L; P. notoginsseng F. H. Chen ex C. Y. Wu et K. M. Feng…). Đóng góp vào sự phong phú của những loài Sâm quí giá này, ở Việt Nam cũng có 3 loài hoàn toàn mọc tự nhiên, trong đó đáng chú ý nhất là Sâm Ngọc Linh, đã và đang là niềm tự hào của đất nước chúng ta.

 

I. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ PHÁT HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC VẬT HỌC SÂM NGỌC LINH

 

- Trong bộ “Cây cỏ miền Nam Việt Nam”, Q.II, 1970, Phạm Hoàng Hộ có mô tả cây “Sâm Nhật” – Panax schinseng Nees var. japonicum Mak.. Phân bố ở núi Langbian (Lâm Đồng).

 

- Ngày 19 tháng 3 năm 1973, Đào Kim Long và Nguyễn Châu Giang (được biết có cả Nguyễn Thị Lê) đã phát hiện và thu được những mẫu Sâm Ngọc Linh đầu tiên ở núi Ngọc Linh, độ cao từ 1500 – 2200m, thuộc điạ phận của tỉnh Kon Tum hiện nay. Hai tác giả đặt tên cho cây thuốc này là “Sâm đốt trúc” – Panax arculeatus. Đáng tiếc rằng những tiêu bản đầu tiên này hiện không còn.

 

- Trong một báo cáo được viết vào đầu năm 1979, về kết quả “Điều tra phát hiện cây Sâm đốt trúc ở Quảng Nam - Đà Nẵng” [8] vào thời gian trước đó (có thể vào cuối năm 1977 hoặc đầu năm 1978), Đống Việt Thắng và cộng sự đã thu được nhiều mẫu, mô tả khá đầy đủ các chi về đặc điểm hình thái. Tác giả cũng đồng quan điểm với Phạm Hoàng Hộ (1970) về tên khoa học là Panax schinseng Nees var. japonicus Mak. Và cũng từ năm 1978 tên gọi là “Sâm K5” được viết trên sách báo.

 

- Đến năm 1985, trong chương trình hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, cây Sâm Ngọc Linh được xác định là một loài mới đối với khoa học bởi Hà Thị Dụng và I. V. Grushvitzky. Từ đó Panax vietnamensis Ha et Grushv., 1985 chính thức được công bố với thế giới, nhiều nhà khoa học nước ngoài thường gọi là Sâm Việt Nam (Vietnamese ginseng). Mặc dù vậy, theo chúng tôi, tên gọi thông dụng theo tiếng Việt là SÂM NGỌC LINH có nhiều ý nghĩa cụ thể hơn.

 

- Phạm Hoàng Hộ, 1993, trong Q.II – T.II, trang 647 bộ “Cây cỏ Việt Nam” xuất bản ở Canada ghi: Sâm Nhật Bản (P. japonica (Nees) Mayer); phân bố: Lang Bian, Kon Tum. Đến lần xuất bản gần đây (Cây cỏ Việt Nam, Q.II, NXB trẻ, 2000, trang 515 và 516), ông đã thừa nhận có loài P. vietnamensis Dung et Grushv. ở núi Ngọc Linh (Gia Lai – Kon Tum); đồng thời vẫn bảo vệ quan điểm là loài Sâm lấy ở Lang Bian và Kon Tum là cây Sâm Nhật (Panax japonica (Nees) Mayer). Đây là thông tin duy nhất cho rằng ở Kon Tum (không rõ có ở núi Ngọc Linh hay không) có 2 loài thuộc chi Panax L. Vấn đề này cần phải kiểm chứng thêm. Tuy nhiên, mọi nghiên cứu về hoá học, dược lý, bảo tồn… chỉ thấy đề cập 1 loài là Panax vietnamensis Ha et Grushv. ở vùng núi Ngọc Linh.

 

II. SỰ PHÂN BỐ CỦA CÁC LOÀI THUỘC CHI PANAX L. TRÊN THẾ GIỚI [9] VÀ TÍNH ĐẶC HỮU CỦA SÂM NGỌC LINH

 

II.1. Phân bố của các loài thuộc chi Panax L. trên thế giới

TT

Các loài và dưới loài

Mọc tự nhiên

Trồng

1

Panax ginseng C.A. Meyer

Trung Quốc, Triều Tiên, Nga

Trung Quốc, Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Canada, Nga…

2

P. quinquefolius L.

Canada, Mỹ

Trung Quốc, Mỹ

3

P. notoginseng F. H. Chen ex C.Y.Wu et K.M.Feng

Canada, Mỹ

 

Trung Quốc

 

4

P.pseudoginseng Wall.

 

 

Trung Quốc, Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam

5

P.japonicus C.A. Meyer

Nhật Bản

Nhật Bản, Trung Quốc

6

P.wangianus S.C.Sun

Trung Quốc

 

7

P.zingiberensis C.Y Wuet K. M. Feng

Trung Quốc

Trung Quốc

8

P.stipuleanatus H.T. Tsai et K. M. Feng

Trung Quốc, Việt Nam

 

 

9

P. bipinnatifidus Seemann

Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal, Mianma, Việt Nam

 

10

P.bipinnatifidus Seemann var. angustifolius (Burkill)Wen

Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal

 

11

P.trifoliatus L.

Canada, Mỹ

 

12

P.vietnamensis Ha et Grushv.

Việt Nam (Trung Quốc)

 

 

Nhìn vào bản đồ phân bố của chi Nhân sâm (Panax L.) trên thế giới cho thấy, trước hết chúng chỉ xuất hiện ở Bắc bán cầu. Phân bố này kéo dài từ vùng rừng núi giáp bờ biển phía Đông của Bắc Mỹ (Canada và Mỹ) sang vùng Đông Bắc Á thuộc Liên Bang Nga, Nhật Bản, Bắc Triểu Tiên đến tận vùng Tây – Nam Trung Quốc. Còn giới hạn theo trục Bắc – Nam của khu phân bố có thể được tính từ vùng Viễn Đông Liên Bang Nga xuống đến miền Trung của Việt Nam (P. vietnamensis Ha et Grushv.). Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, trung tâm phân bố của chi Panax L. lại ở vùng Tây – Nam của Trung Quốc lan toả xuống một phần của phía Bắc Việt Nam. Bởi vì ở đây, hiện đang có tới 7 loài và dưới loài mọc hoàn toàn tự nhiên, 2 loài trồng là P. notoginseng (nhập từ Bắc Mỹ) và P. pseudoginseng (không tìm thấy trong hoang dại, nhưng giả thiết có nguồn gốc từ vùng cận Himalaya hoặc là kết quả lai tự nhiên giữa 2 loài gần gũi nào đó). Ở Bắc Mỹ hiện có 3 loài (P. notoginseng, P. quinquefolius và P. trifoliatus). Giới hạn cuối cùng về phía Nam của chi Panax L. là loài Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis) của Việt Nam.

 

II.2. SÂM NGỌC LINH LÀ LOÀI ĐẶC HỮU HẸP Ở VIỆT NAM

II.2.1. Khái niệm

Khái niệm ĐẶC HỮU (Endemic) là yếu tố nhằm ám chỉ về sự phân bố địa lý (Geographical distribution) hạn chế của một Taxon (loài, chi, họ) sinh vật nào đó, xung quanh nơi phát sinh nguyên thuỷ của chúng (origin). Vì thế yếu tố đặc hữu khác với khái niệm về yếu tố “Bản địa” (Indigenous) ở chỗ, yếu tố bản địa bao gồm cả những loài sinh vật chưa rõ về nguồn gốc phát sinh, nhưng từ lâu đã thấy (trong hoang dại hay nuôi / trồng) ở một địa phương hay một vùng phân bố địa lý nhất định. Yếu tố đặc hữu không bao giờ được sử dụng đối với vật nuôi / cây trồng.

Để xác định về yếu tố đặc hữu của một taxon sinh vật, người ta phải căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, phạm vi phân bố địa lý. Đôi khi còn phải kết hợp với cả những kiến thức về kiến tạo địa lý (thuyết tách – nhập, trôi dạt lục địa…) và cổ sinh vật. Các yếu tố đặc hữu của sinh vật thường được đề cập là:

- Đặc hữu vùng (hay khu vực): bao gồm một vùng địa lý có tính liên tục, thuộc lãnh thổ của một vài quốc gia gần nhau: Đông – Bắc Á (Viễn Đông Nga + Nhật Bản + Đông – Bắc Trung Quốc và Triều Tiên); Nam Trung Quốc – Bắc Việt Nam (tỉnh Vân Nam + Quảng Tây Trung Quốc và một phần lãnh thổ miền Bắc Việt Nam); Đông Dương (Việt Nam + Lào + Campuchia).

- Đặc hữu quốc gia: thường chỉ có trong một quốc gia nào đó. Song cũng có trường hợp phần lớn khu phân bố địa lý của loài nằm ở một quốc gia này, nhưng có một điểm phân bố (rất hẹp) thuộc quốc gia khác, liền kề về mặt địa lý với khu phân bố trung tâm. Ví dụ: trong số gần 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch đã phát hiện ở nước ta, có tới gần 4000 loài được coi là Đặc hữu Việt Nam, trong đó có những loài có điểm phân bố ở biên giới Lào, Trung Quốc giáp Việt Nam.

- Đặc hữu hẹp: chỉ thấy phân bố trong một phạm vi địa lý hạn chế trong một quốc gia.

 

II.2.2. TÍNH ĐẶC HỮU HẸP CỦA SÂM NGỌC LINH

Căn cứ vào:

- Nguồn tư liệu về sự phân bố của các loài thuộc chi Nhân sâm (Panax L.) trên thế giới.

- Nguồn tư liệu về kết quả điều tra về sự phân bố của loài Sâm Ngọc Linh ở trong nước đã công bố.

- Khái niệm về yếu tố đặc hữu sinh vật kể trên.

Chúng tôi đi đến kết luận, Sâm Ngọc Linh là loài đặc hữu hẹp miền Trung Việt Nam. Bao gồm 2 điểm phân bố là núi Ngọc Linh (tỉnh Quảng Nam và Kon Tum) và núi Lang Bian (Lâm Đồng).

Tuy nhiên, hiện có một số thông tin khác cần quan tâm, đó là:

 Trong quá trình

 Trong quá trình điều tra dược liệu ở tỉnh Quảng Nam các năm 1983, 1984, 2002), chúng tôi được một số cán bộ và đồng bào địa phương cho biết, ở một vùng núi cao thuộc huyện Hiên (giáp biên giới Lào) và một điểm khác thuộc huyện Phước Sơn, cũng có Sâm Ngọc Linh. Những thông tin này cần thiết phải có sự kiểm tra, nhất là ở huyện Hiên – nơi có khối núi cao trên 1500m và đã từng thu được mẫu của loài Ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus) – một taxon gần kề với chi Panax L.

Trong đợt điều tra tới nếu có phát hiện được Sâm Ngọc Linh ở huyện Hiên (và kể cả Phước Sơn), thì tính đặc hữu hẹp của nó vẫn không thay đổi.

 Gần đây, khi nghiên cứu bộ tiêu bản những loài đã được xác định là P. japonicus C. A. Meyer var. japonicus và P. pseudoginseng Wall. var. japonicus (C. A. Meyer) Hoo et Tseng của Trung Quốc, bà Jun Wen (Mỹ) đã phát hiện trong nhiều mẫu (thuộc 2 taxon này) có những đặc điểm về hình thái bên ngoài tương đồng với loài Sâm Ngọc Linh (P. vietnamensis Ha et Grushv.) của Việt Nam. Từ đó, tác giả này cho rằng ở miền Đông, Trung và Tây Trung Quốc cũng có loài P. vietnamensis Ha et Grushv. mọc tự nhiên. Đây là thông tin đầu tiên cho biết Sâm Ngọc Linh có ở một nước thứ hai. Tuy nhiên những thông tin này hiện chưa được kiểm chứng thêm. Mặt khác, ngay trong nghiên cứu của mình, Jun Wen có sử dụng số lượng nhiễm sắc thể (2n) và DNA để so sánh giữa các loài có mặt tại Trung Quốc với các loài ở Nhật Bản, trong khi đó về thể nhiễm sắc và DNA của Sâm Ngọc Linh chưa được đề cập (hoặc chưa được nghiên cứu).

 

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

1. Căn cứ vào tất cả những nguồn tư liệu đã được công bố, chíng tôi cũng cho rằng SÂM NGỌC LINH (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) là loài đặc hữu hẹp miền Trung Việt Nam.

2. Tuy nhiên, để có thêm cơ sở chắc chắn khẳng định về tính đặc hữu của nó, cần có kế hoạch điều tra thực địa về thông tin, cây Sâm cũng có ở huyện Hiên (và cả Phước Sơn). Điều tra thu thập lại loài Sâm ở Lang Bian và vấn đề định loài. Bên cạnh đó, cần tiến hành nghiên cứu cụ thể thêm về nhiễm sắc thể, DNA của Sâm Ngọc Linh (nếu chưa nghiên cứu), đồng thời với việc so mẫu trực tiếp với một số loài ở Trung Quốc khi có điều kiện.

3. Kiên quyết bảo vệ những cá thể Sâm Ngọc Linh còn sót lại ở núi Ngọc Linh. Nếu bị mất hoàn toàn trong hoang dại sẽ không còn tính đặc hữu nữa.

 

 

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CÂY SÂM VIỆT NAM

A.    Đặt vấn đề

- Cây sâm Việt Nam (sâm K5, sâm Ngọc Linh, củ ngãi rợm con) đã được sử dụng trong dân gian như một vị thuốc giấu của đồng bào Xê-Đăng. Năm 1973, đoàn điều tra dược liệu Ban dân y khu 5 do dược sĩ Đào Kim Long và Nguyễn Châu Giang hướng dẫn, đã phát hiện được một loài Panax mọc hoang thành quần thể ở độ cao 1.800m tại Kon Tum. Bắt đầu từ năm 1974, loài sâm mới này được gọi với tên sâm K5 để đánh dấu bước phát hiện lịch sử tại vùng liên khu 5.

- Ngày 14/3/1978, Bộ Y tế đã thành lập “Đơn vị nghiên cứu chuyên đề sâm khu 5” và đề tài “Nghiên cứu về cây sâm K5” được công nhận là đề tài cấp bộ. Ngày 14/4/1985, Bộ Y tế có quyết định nâng “Đơn vị nghiên cứu chuyên đề sâm K5” lên thành “Trung tâm Sâm Việt Nam”. Đề tài cây sâm K5 được UBKHKT nhà nước, nay là Bộ Khoa học và Công nghệ, công nhận là đề tài nằm trong chương trình nghiên cứu trọng điểm cấp nhà nước “Tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc” mã số 64C. Ngày 20/6/1997, Bộ Y tế quyết định đổi tên thành “Trung tâm Sâm và Dược liệu TP.HCM” trực thuộc Viện Dược Liệu để tiếp tục nghiên cứu triển khai ứng dụng nguồn dược liệu phía Nam, đặc biệt là cây sâm K5.

- Trải qua gần 30 năm nghiên cứu một cách toàn diện từ định dạng tên khoa học đến xác định thành phần hóa học, phân lập hoạt chất và nghiên cứu tác dụng sinh học của các hoạt chất, trong đó sự hiện diện đáng chú ý của Majonoside-R2đã đưa cây sâm Việt Nam trở thành cây thuốc độc đáo của Việt Nam, thu hút sự đầu tư nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước.

 

B.     Kết quả nghiên cứu về cây sâm Việt Nam

I – Về tài nguyên thực vật

- Đã điều tra phát hiện các vùng Sâm thuộc hai tỉnh Gia Lai – Kon Tum và Quảng Nam gồm 108 vùng sâm mọc tập trung. Về điều tra trữ lượng và khoanh vùng bảo vệ, đã đặt 1.032 ô tiêu chuẩn, thu 137.932 số liệu từ 17.548 cây sâm, đã vẽ 136 bản đồ, khoanh thành 11 chốt bảo vệ, khai thác. Tháng 3 năm 1980, bản đồ đề nghị khoanh vùng đã được Hội đồng Bộ trưởng xét công nhận và ra quyết định thành lập “Vùng cấm quốc gia”

- Cây sâm K5 là loài thứ 3 của chi Panax L. được tìm thấy và công bố chính thức ở Việt Nam với tên khoa học là Panax vietnamensis Ha et Gushv, Araliaceae. Đây là một loài mới của chi Panax, là loài thứ 20 được phát hiện trên thế giới và là loài đặc hữu của hệ thực vật Việt Nam. Đây là lần đầu tiên về biên giới của chi Panax, là loài thứ 20 được phát hiện trên thế giới và là loài đặc hữu của hệ thực vật Việt Nam. Đây là lần đầu tiên về biên giới của chi Panax được tìm thấy rất xa về phía nam (15 vĩ độ Nam và 108 kinh đông) thuộc vùng khí hậu nhiệt đới. Cây sâm K5 mọc tập trung trên một vùng rộng với trữ lượng khá lớn và có tỷ lệ cao các cây từ 10-72 năm tuổi.

- Với các tác dụng bồi bổ cơ thể và tác dụng chống stress trên cây sâm Việt Nam, một thời gian dài bị khai thác quá mức lại chưa được đầu tư nghiên cứ bảo tồn và phát triển vì vậy đã xuất hiện nguy cơ tuyệt chủng vào những năm đầu của thập kỷ 90. Từ năm 1998 đến nay Viện Dược liệu và Trung tâm Sâm và Dược liệu TP. Hồ Chí Minh đã đầu tư cho Quảng Nam và Kon Tum qua đề án “Bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc” kinh phí nghiên cứu trồng và phát triển, hiện nay đã nâng số cá thể tại 2 tỉnh lên 350.000.

II. Về nghiên cứu tái sinh cây trồng thử cây Sâm Việt Nam

            Đã nghiên cứu sử dụng đầu mầm cây sâm trưởng thành trồng ở độ cao 1.800m, chọn hạt giống và di thực xuống độ cao 1.100m bằng các phương pháp xử lý và gieo hạt trong bầu túi PE và gieo thẳng trên luống, theo dõi hình dạng và sự tăng trưởng của cây sâm trồng và xác định hàm lượng saponin toàn phần trong cây sâm mọc hoang dại và hồng sâm, bạch sâm của Triều Tiên. Bước đầu đã thu được kết quả đáng khích lệ.

            III. Về hóa học

            Đã phân lập và xác định cấu trúc của 25 saponin như Ginsenoside-Rb1 (2%), Ginsenoside-Rg1 (1,4%), Ginsenoside-Rd (0,87%). Đặc biệt là sự có mặt của 24 hợp chất saponin dammaran mới (được đặt tên là Vinaginsenoside1-14 và a-j) với một lượng lớn saponin dammaran kiểu ocotillol (5,58%) chiếm hơn 50% saponin toàn phần.

            Đã xác định hợp chất tiêu biểu của sâm Việt Nam là majonoside-R2 cao gấp 42 lần hàm lượng của hợp chất này trong sâm Nhật Bản (Panax japonicas var.major). Đã phân lập và xác định cấu trúc của 7 hợp chất polyacetylen, trong đó 2 chất chủ yếu là panaxynol (0,0084%) và heptadeca-1,8(E) Dien- 4,6 dyine-3,10 diol (0,0028%), hai chất này có trong sâm Triều Tiên và đã được chứng minh là có tác dụng độc tế bào và kháng ung thư.

            Đã xác định 17 acid béo ới hàm lượng 0,53%. Trong đó quan trọng nhất là acid linoleic và linolenic là những hợp chất có tác dụng chống lão hóa tế bào. Các hợp chất còn lại là acid oleic, palmitic và stearic nằm trong 5 acid béo có hàm lượng cao nhất (12-15%) và có số lượng nhiều nhất (49 saponin), so với các loài Panax khác đã nghiên cứu trên thế giới như nhân sâm chỉ mới xác định được 26 saponin. Saponin triterpen dammaran có trong sâm Việt Nam đã chứng minh giá trị sử dụng cao như nhân sâm, sâm Mỹ, tam thất. Trong đó saponin triperpen dammaran kiểu ocotillol với hàm lượng cao là một điểm khác biệt lý thú so với các loài sâm khác, đặc biệt là hợp chất majonoside-R2.

IV-Về tác dụng dược lý lâm sang

1.      Những kết quả nghiên cứu về dược lý thực nghiệm

Ba tác dụng dược lý quan trọng của họ Araliaceae như bồi bổ, gia tăng chuyển hóa, tác dụng tăng lực chống nhược sức, tác dụng sinh thích nghi (adaptogen). Tăng sức đề kháng đã trở thành đối tượng nghiên cứu chính về tác dụng dược lý như tăng lực, tăng cường hoạt động của não bộ, sinh dục, tác dụng phòng chống phóng xạ, kháng viêm, giảm đau, hạ đường huyết, hạ cholesterol máu. Tác dụng kháng khuẩn đặc biệt trên các chủng Streptococcus gây viêm họng, tác dụng bảo vệ gan và gia tăng hàm lượng cytochrom P-450 trong vi thể gan đã được kết hợp nghiên cứu với Viện Nghiên cứu Y học Phương Đông – Toyama Nhật Bản. Tác dụng phục hồi các rối loạn gây bởi stress tâm lý của sâm Việt Nam như mất cảm giác đau, giảm thời gian ngủ, loét dạ dày, suy giảm miễn dịch (Trong khi Sâm Triều Tiên được thử đối chiếu không thấy có tác dụng này). Majonosid R2 đã được xác định là hợp chất sinh học có tác dụng chống stress và tác dụng chống ung thư in vitro và in vivo.

Những tác dụng dược lý đang được quan tâm trong bối cảnh xã hội công nghiệp như chống stress, chống lão hóa, phòng chống ung thư đã và đang được chứng minh ở Sâm Việt Nam, mở ra triển vọng áp dụng thực tiễn trên lâm sang.

2.      Những kết quả đánh giá về lâm sang của các chế phẩm sâm Việt Nam đã được Viện Lão khoa Hà Nội, Quân Y viện 175 TP. HCM và Viện Điều dưỡng TP. HCM cho thấy sâm K5 có một số hiệu lực sau: điều trị suy nhược, gia tăng sức bên thể chất, tăng sức đề kháng, cải thiện chức năng gan. Ngoài ra có thể dùng phối hợp với một số thuốc khác làm hạ với một số thuốc khác làm hạ đường huyết trong bệnh tiểu đường, giảm các cơn đau dạ dày mãn tính và có tác dụng tốt trong các trường hợp viêm họng, long đờm, giảm ho.

3.      Những két quả nghiên cứu về sâm K5 đã góp phần đưa cây sâm Việt nam từ một cây “thuốc giấu” của đồng bào Xê Đăng, trở thành cây thuốc quí đặc hữu của Việt Nam.

C.     Kết luận và đề nghị

           Cây sâm Việt Nam là cây thuốc đặc hữu có giá trị kinh tế xã hội trong nước và được nhiều bạn bè quốc tế quan tâm. Song chưa thể trở thành hàng hóa truyền thống như Sâm Triều Tiên, Trung Quốc vì mới được đầu tư nghiên cứu cơ bản. Hy vọng rằng trong những năm tới sẽ được cấp quản lý ở Trung ương và địa phương quan tâm để có thể nghiên cứu phát triển toàn diện hơn.

Sản phẩm bạn xem gần đây

Copyright © 2014   -|-   VƯỜN SÂM NGỌC LINH   -|-   BẢO KIM LONG - CUNG CẤP SÂM NGỌC LINH CAO CẤP

Văn phòng: 860/14 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 25, Q. Bình Thạnh, TP.HCM -|- Email: Tranducan2104@gmail.com | Hotline: 0938.30.37.34 - 0988.273.473

nấm ngọc cẩu | tam thất bắc | vi cá mập | nấm lim xanh | xáo tam phân | hạt giống sâm ngọc linh | Nước Uống Collagen Sâm Ngọc Linh | sâm dây ngọc linh | nam ngoc cau | Viên Ngậm Sâm Ngọc Linh | Nấm Chaga Nga | Sâm Maca Peru